Free responsive blog template

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

Bài viết về gỗ

Bài liên quan
1. Sơ Lược về cây gỗ cao su, loại nguyên liệu gỗ rừng trồng đang được sử dụng nhiều trong chế biến và sản xuất gỗ
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp hội hè. Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo Thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ. Uchouk là chảy ra hay khóc).

Ngày nay, cây cao su được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới ẩm, có nhiệt độ trung bình từ 22°C đến 30°C. Riêng Việt Nam, cây cao su được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống được. Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Đến nay, cây cao su được trồng ở khắp mọi miền đất nước, một số nơi phổ biến là Đồng Nai, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên…

Hiện nay, diện tích rừng đang dần được thu hẹp, vì vậy cây cao su là một lựa chọn tốt vừa mang giá trị kinh tế vừa bảo vệ môi trường. Nó phủ xanh đất trống, chống xói mòn, bảo vệ lớp đất bề mặt, giữ độ ẩm và cản gió cho vùng sinh thái…

Lá cây cao su khi rụng lại là nguồn hữu cơ tốt cho đất. Xương của lá cao su hong khô có thể được uốn thành các hoa trang trí tuyệt đẹp trong nhà và mang đến thu nhập cho người dân. Cành lá dùng làm củi đun. Hạt cao su dùng làm giống và có giá trị cao trong công nghiệp, dùng để chế tạo sơn điện li, ép dầu làm xà phòng, khô dầu cho chăn nuôi, dầu đốt. Nhân hạt cao su làm thức ăn cho cá, vỏ hạt cao su chế biến than hoạt tính, làm pin đèn, gỗ dán, gỗ cao cấp. Dầu hạt cao su có thể dùng trong hội họa, khô dầu hạt cao su làm thức ăn có giá trị cho gia súc.

Sử dụng bột nhân cao su thay thế môt phần protein bột cá trong khẩu phần ăn của cá rô là một giải pháp hữu ích vì bột nhân cao su có giá trị dinh dưỡng cao. Ngoài ra, dùng cao su thay nhựa đường là một ý tưởng mới lạ và đang được khai thác kĩ hơn.

Cây cao su mang đến nhiều lợi ích kinh tế cho người dân. Sản phẩm chính là mủ hay còn gọi là “vàng trắng” vì nó là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghệ. Ngoài ra, cây cao su còn cung cấp gỗ khi hết khả năng thu hoạch mủ. Ngày nay nguyên liệu gỗ tự nhiên đang hiếm dần vì vậy mà cây cao su ngày càng có giá trị. Gỗ cây cao su được đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau và được đánh giá là gỗ thân thiện với môi trường. Gỗ cây cao su là nguyên liệu quý giá để sản xuất các mặt hàng gia dụng và nội thất.

Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi trên 30 năm.

Cây cao su ở độ tuổi trên 30 năm không còn cho mủ sẽ được thanh lý và cưa xẻ thành thanh, ván phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ.

Đối với việc sử dụng gỗ cao su để sản xuất đồ nội thất, nhà sản xuất cũng qua nhiều công đoạn xử lý để cho ra nguyên liệu gỗ đạt chuẩn về độ ẩm, độ cong vênh, xử ly mọt … Thân cây cao su thường nhỏ (khoảng 16-35cm) nên nhà sản xuất phải ghép từng miếng nhỏ lại để có được những khối gỗ lớn, từ đó mới bắt đầu đưa vào quy trình sản xuất ra thành phẩm như bàn, ghế, giường ngủ, tủ quần áo, …

Do tính chất của cây cao su, gỗ cao su có đặc điểm nhẹ nhưng rất cứng, có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau , nhiều vân đáp ứng được nhu cầu về trang trí, mỹ thuật cho sản phẩm. Nó cũng được đánh giá như là loại gỗ “thân thiện môi trường”, do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ. Ngày nay gỗ cao su ngày càng được dùng rộng rãi và đáp ứng được những yêu cầu khắc khe của ngành gỗ công nghiệp chế biến. Thị hiếu của người tiêu dùng về các sản phẩm làm từ gỗ cao su cũng gia tăng một cách rõ rệt.

Ván ghép thanh gỗ cao su được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý tẩm sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được xử lý các công đoạn như cưa, cắt, bào, phay mộng, ghép, chà nhám. Ván ghép thanh gỗ cao su được xử lý bằng công nghệ biến tính gỗ trước khi đưa vào sản xuất nhằm làm tăng tính ổn định, độ bền, hạn chế tối đa sự biến dạng của gỗ. Ván ghép thanh gỗ cao su được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, thiết bị trường học, sản xuất ván sàn, vách ngăn, tủ và nhiều sản phẩm khác. Hiện nay Công Ty Cổ Phần Ván Ghép Năm Trung đang cung cấp các sản phẩm ván ghép thanh gỗ cao su cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đặc biệt ngoài sản phẩm ván ghép sẵn chúng tôi còn chuyên ghép theo chi tiết đơn hàng nhằm tiết kiếm thời gian, chi phí, nâng cao năng xuất cho các đơn vị sản xuất đồ mộc.

Cây cao su thật sự mang đến nhiều lợi ích cho con người như lợi ích kinh tế, xã hội, tự nhiên. Vì vây, nhiều người đã lựa chọn cây cao su để phát triển, và ngày càng khai thác tốt hơn lợi ích từ cây cao su. Những sản phẩm từ cây cao su sẽ ngày càng phong phú đa dạng hơn.

2. Gỗ Tự Nhiên nguyên liệu lý tưởng cho sản xuất đồ gỗ nội thất 
 
Gỗ tự nhiên là nguyên liệu lý tưởng cho sản xuất hàng mộc. Gỗ là nguyên liệu cơ bản trong công nghệ sản xuất đồ mộc. Với tình trạng gỗ tự nhiên ngày một khan hiếm như hiện nay, sự mất cân bằng giữa cung và cầu về loại nguyên liệu này đã bội hoá giá trị sử dụng của mặt hàng gỗ tự nhiên.

Tuy nhiên giá trị của nó chỉ thực sự phát huy khi nó được sử dụng đúng chỗ, hợp cách. Khi sử dụng gỗ tự nhiên cần chú ý tới một số đặc trưng cơ bản sau:

- Tính chất cơ học

- Tính chống chịu sâu mọt

- Màu sắc - vân thớ

- Độ mịn bề mặt gỗ

- Tính co rút của gỗ

- Tỷ trọng của gỗ

- Tính chất gia công của gỗ

a) Đặc tính cơ học của gỗ.

giải pháp cho liên kết mộng bởi sức chịu nén Tuỳ theo mục đích sử dụng, chức năng của chi tiết mà ta lựa chọn loại gỗ có các đặc tính cơ học cho phù hợp. Nếu chọn gỗ có tính chất cơ học không phù hợp có thể gây ra những nhược điểm lớn đối với sản phẩm và có thể dẫn đến sự mất an toàn chức năng của sản phẩm. Các tính chất cơ học cần được quan tâm đó là: Sức chịu nén ép, sức chịu trượt, sức chịu uốn, modul đàn hồi, độ cứng, sức chịu tách, khả năng bám đinh...

- Sức chịu nén ép của gỗ (có thể là nén dọc hoặc ngang thớ) cần được lưu ý khi chọn ép kém sẽ làm cho mộng dễ bị chèn dập, liên kết yếu, có thể bị phá huỷ khi sử dụng.

- Sức chịu trượt chủ yếu phải quan tâm khi sản phẩm có chi tiết cong, hướng chịu lực dễ gây hiện tượng trượt dọc thớ.

- Sức chịu uốn là tính chất cần được quan tâm nhiều nhất trong thiết kế sản phẩm mộc. Trong kết cấu sản phẩm mộc ta thường xuyên bắt gặp các chi tiết chịu uốn như các kệ đỡ ngang. Nếu ứng suất uốn xuất hiện trong chi tiết vượt quá giới hạn cho phép của gỗ, chi tiết sẽ bị phá huỷ.

- Modul đàn hồi ảnh hưởng trực tiếp tới độ võng của chi tiết gỗ. Trong thiết kế cần tính toán lựa chọn loại gỗ có modul đàn hồi phù hợp, đảm bảo tính thẩm mỹ của sản phẩm.

- Độ cứng của gỗ cần được lựa chọn để đảm bảo sức chống chịu va đập, cọ sát của sản phẩm với các vật xung quanh khi sử dụng cũng như trong quá trình sản xuất, song nó cũng phải phù hợp với điều kiện gia công.

- Sức chịu tách của gỗ là tính chất cần được tìm hiểu kỹ, trước khi gia công bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng các mối liên kết mộng và liên kết bằng đinh.

b) Đặc tính chống chịu sâu mọt của gỗ.

Khả năng chống chịu sâu mọt của gỗ là một trong những tác nhân quyết định chất lượng sản phẩm. Ngày nay, tuy có nhiều phương pháp bảo quản gỗ tương đối hữu hiệu song những loại gỗ có sức chống chịu tự nhiên đối với mối mọt vẫn được ưa chuộng bởi một số phương pháp bảo quản gỗ đặc biệt là bảo quản bằng hoá chất vẫn ít nhiều ảnh hưởng tới tâm lý người sử dụng.

Tóm lại, khi sử dụng gỗ có khả năng bị sâu mọt xâm hại, ta cần phải có phương án xử lý bảo quản phù hợp.

c) Màu sắc và Vân thớ gỗ.

Màu sắc và Vân thớ gỗ là yếu tố quyết định giá trị thẩm mỹ của sản phẩm, bởi vậy, khi lựa chọn gỗ cần tìm hiểu kỹ vấn đề này. Cần lưu ý rằng tính thẩm mỹ của sản phẩm còn thể hiện qua sự đồng đều về màu sắc và vân thớ gỗ của các chi tiết trong sản phẩm chứ không nhất thiết là phải đẹp trong từng chi tiết. Vân thớ gỗ ngoài việc tác động trực tiếp tới tính thẩm mỹ của gỗ, nó còn ảnh hưởng rất lớn tới sự biến dạng gỗ trong quá trình sử dụng.

Về màu sắc, gỗ có thể được nhuộm màu theo ý muốn, song cần lưu ý lựa chọn phương thức nhuộm sao cho không làm mất đi vẻ đẹp vốn có của các vân thớ gỗ. Trong từng điều kiện thiết kế, từng mục đích sử dụng cụ thể mà ta có thể lựa chọn loại gỗ có chất lượng màu sắc, vân thớ cho phù hợp.

d) Độ mịn của bề mặt gỗ.

Do cấu tạo thô đại của mỗi loại gỗ khác nhau kéo theo độ mịn bề mặt của chúng cũng khác nhau. Nhìn chung gỗ có độ mịn bề mặt càng cao, càng dễ cho những sản phẩm đẹp bởi có thể tạo ra độ bóng theo ý muốn mà không cần thiết tới lớp bả lót.

e) Tính chất co rút của gỗ.

Gỗ có tính chất co rút khi thay đổi độ ẩm là một nhược điểm lớn của loại nguyên liệu này. Tính chất co rút phụ thuộc vào cấu tạo của từng loại gỗ. Sự co rút của các chi tiết trong sản phẩm mộc có thể gây ra nhiều khuyết tật cho sản phẩm như: cong vênh, nứt nẻ, ...

Nhìn chung, sự co rút dọc thớ của gỗ là không đáng kể, nó chỉ vào khoảng 0,1% đến 0,3%. Theo hướng xuyên tâm, mức độ co rút vào khoảng 3% đến 6%. Còn theo hướng tiếp tuyến, mức độ co rút lớn hơn, mức độ co rút từ 5% đến 12%.

Do vậy khi thiết kế cần quan tâm tới lượng dư kích thước co rút cho phôi liệu cũng như chi tiết hoàn thiện. Bản chất của sự co rút là sự thay đổi độ ẩm gỗ bởi vậy cần hết sức lưu ý tới độ ẩm gỗ cũng như độ ẩm của môi trường sử dụng.

f) Tỷ trọng của gỗ.

Tỷ trọng của gỗ là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp, nhiều chỉ tiêu khác có liên quan mật thiết với chỉ tiêu này, đặc biệt là các chỉ tiêu về tính chất cơ học của gỗ. Đối với việc sản xuất hàng mộc dân dụng, tỷ trọng của gỗ không nên quá lớn bởi gỗ có tỷ trọng lớn vừa khó gia công, vừa nặng nề trong sử dụng. Tất nhiên, xét về độ bền thì thông thường, gỗ có tỷ trọng lớn sẽ có độ bề cao hơn. Tỷ trọng hợp lý của gỗ sử dụng trong sản xuất hàng mộc thường là 0,4 đến 0,5 g/cm 3 .

g) Tính chất gia công của gỗ.

Tính chất gia công của gỗ thường chỉ gỗ khó hay dễ gia công. Tính chất gia công của gỗ thường gắn liền với nhiều tính chất cơ lý và cấu tạo của gỗ. Gỗ để sản xuất hàng mộc cần phải dễ gia công đặc biệt là phải phù hợp với chế độ gia công trong một số trường hợp như chạm khắc hay tiện tròn... Cần phân biệt gỗ dễ bào với gỗ khó bào, gỗ dễ đánh nhẵn với gỗ khó đánh nhẵn, gỗ dễ đóng đinh với gỗ khó đóng đinh...

Tóm lại gỗ khó gia công ảnh hưởng rất lớn đến quá trình công nghệ và chất lượng sản phẩm, cần hết sức lưu ý khi lựa chọn gỗ và phương pháp gia công.

3.  Sàn gỗ tự nhiên sản xuất từ gỗ cao su

Sàn Gỗ Tự Nhiên là sản phẩm được làm từ 100% gỗ tự nhiên. Sau khi được xử lý chống mục mọt, chậm cháy, co ngót, cong vênh, sẽ được phủ lên bề mặt lớp sơn UV công nghệ Đức chống thấm, chống trầy xước, tạo bề mặt cứng, bóng, sáng đẹp, giữ màu sắc hài hòa tự nhiên và bền bỉ với thời gian. Sử dụng Sàn Gỗ Tự Nhiên- Sang Trọng- Lịch Sự- Đẳng Cấp- khẳng định giá trị của ngôi nhà bạn. 

Không những thế, Gỗ còn là một trong năm yếu tố hình thành nên trái đất, nên nó vận hành theo quy luật âm dương ngũ hành, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè, tạo một không gian sống lý tưởng , dễ chịu, như đang ở giữa thiên nhiên trong lành, thoáng mát, mà không một sản phẩm công nghiệp nào có thể so sánh và thay thế được. Theo đông y thì đôi bàn chân là nơi tập trung rất nhiều huyệt đạo và là tấm gương phản chiếu toàn bộ lục phủ ngũ tạng của cơ thể . Khi bàn chân được tiếp xúc trực tiếp lên Sàn Gỗ Tự Nhiên, các huyệt đạo ấy sẽ được “mở” ra, khiến con người có cảm giác gần gũi hơn với thiên nhiên, giúp tăng tuần hoàn máu, thông kinh, hoạt huyết, bổ khí và tiêu trừ bệnh tật. 

Nền nhà là nơi bàn chân ta thường xuyên đặt lên, là nơi những đứa con của ta lăn lê, nô đùa và là nơi cả gia đình ta quây quần, đoàn tụ. Vậy tại sao ta không chọn Sàn Gỗ Tự Nhiên làm người bạn đồng hành của gia đình mình? Đặc biệt với những căn hộ nhỏ và chúng ta thường phải loay hoay không biết xử lý, kê kích ra sao với bàn ghế, giường chiếu,...thì Sàn Gỗ nên là lựa chọn hàng đầu. Hãy thử tưởng tượng xem, nếu chúng ta có thể ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt ngay trên chính nền nhà sạch sẽ và mát mẻ của mình sẽ thật thoải mái, tiết kiệm và tiện ích biết bao! 

Sinh- Lão- Bệnh- Tử là quy luật tất yếu của con người. Nhưng có thể Sống Vui và Khỏe hay không lại phụ thuộc vào chính quyết định ngày hôm nay của bạn. 

Nếu bạn còn do dự vì giá cả của một số loại Sàn Gỗ Tự Nhiên hiện nay vượt quá khả năng tài chính của mình thì xin hãy đến với chúng tôi- SÀN GỖ TỰ NHIÊN của Công ty Cổ Phần Ván Ghép Năm Trung- để cảm nhận và thay đổi. Với tất cả những ưu điểm của Sàn Gỗ Tự Nhiên mà giá cả chỉ xấp xỉ bằng Sàn Gỗ Công Nghiệp, chúng tôi nhất định sẽ không làm bạn thất vọng. 

Hãy để chúng tôi đồng hành cùng sức khỏe gia đình Bạn!

4. Tìm hiểu về ván ghép thanh (gỗ ghép thanh ) nguyên liệu gỗ không thể thiếu cho ngành chế biến gỗ.

 Hiện tại và tương lai những năm tới gỗ cao su vẫn là nguồn nguyên liệu chính cho ngành chế biến gỗ Việt Nam. Do đó việc tìm những giải pháp công nghệ mới trong chế biến và đa dạng hóa loại hình sản phẩm để nâng cao giá trị sử dụng của gỗ cao su thực sự có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Gỗ cao su là loại gỗ mềm, nhẹ, vân thớ, màu sắc đẹp có những tính chất cơ, lý, hóa phù hợp trong sản xuất đồ mộc nội thất.

Do đó, việc nghiên cứu để tạo ra một loại sản phẩm ván ghép thanh từ gỗ cao su nâng cao những tính chất cơ học và vật lý của gỗ để sử dụng trong sản xuất hàng mộc rất hữu ích cho quá trình sản xuất và phục vụ được nhu cầu sử dụng gỗ của người tiêu dùng.

Đồng thời quy trình sản xuất phải đơn giản, dễ thực hiện và hóa chất sử dụng phải có giá thành hợp lý, không gây độc hại cho người sử dụng và không làm biến đổi màu sắc của gỗ, có tính đa năng (vừa có tác dụng chống cháy vừa chống được nấm, mốc, mọt)

Ngày nay nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ  (Chi tiết mộc, bàn ghế gỗ, tủ gỗ, cửa gỗ, cầu thang gỗ, ... ) rất cao. Gỗ có rất nhiều ưu điểm để thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho đời sống con người như:

+ Gỗ có màu sắc, vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu và dễ trang sức tạo hoa vân bề mặt.

+ Cách điện, cách nhiệt, ngăn âm tốt, nhiệt giãn nở bé.

+ Nhẹ, khối lượng thể tích trung bình từ 0,5¸ 0,7g/cm3 nên rất thuận tiện cho việc vận chuyển nhất là vận chuyển thủy.

+ Gỗ mềm nên có thể dùng máy móc, công cụ để cưa xẻ, khoan bào, tách chẻ với vận tốc cao.

+ Dễ phân ly bằng hóa chất dùng để sản xuất giấy và tơ nhân tạo.

Bên cạnh những ưu điểm kể trên gỗ có những nhược điểm rất cần được chú trọng như:

+ Sinh trưởng chậm, có nhiều khuyết tật tự nhiên, tính chất biến động tùy theo điều kiện sinh trưởng.

+ Hút ẩm và thoát hơi nước mạnh nên dễ bị cong vênh, biến hình, nứt nẻ, cường độ và các tính chất khác thay đổi.

+ Dễ bị cháy, dễ biến màu và dễ mục.
Sự hình thành và phát triển của ván ghép thanh

Ván ghép thanh là một loại sản phẩm ván nhân tạo xuất hiện từ rất sớm. Nhưng nó chỉ phát triển mạnh sau năm 1970. Vùng có khối lượng lớn nhất là Châu Âu, tiếp đó là Châu Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản là nước sản xuất ván ghép thanh nhiều nhất, sau đó đến Hàn Quốc, Indonesia. Ở Việt Nam, ván ghép thanh chỉ mới phổ biến trong những năm gần đây, nhưng nó mang lại cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tận dụng được nguồn nguyên liệu phế thải trong phân xưởng xẻ, cành ngọn trong khai thác. Không chỉ dừng lại ở đó mà phạm vi sử dụng của nó được dùng rất rộng rãi như trong hội trường, phòng làm việc, phòng khách, phòng ngủ, khách sạn... Và ván ghép thanh cũng có một số ưu điểm nổi bật như độ ẩm của ván thấp, cách nhiệt và cách âm tốt, bền, kích thước rộng, giá thành rẻ...
Đặc điểm tính chất của ván ghép thanh

Do những đặc tính cơ lý ưu việt, kiểu dáng màu sắc phong phú, nên đồ mộc làm từ ván gỗ ghép thanh thích hợp với nội thất hiện đại. Nguồn gỗ khai thác rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt, vì vậy sản xuất gỗ nhân tạo là hướng ưu tiên nhằm giải quyết nguyên liệu.

Ván ghép thanh (còn gọi gỗ ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất và các sản phẩm khác.

Các cách thức gỗ ghép: song song, mặt, cạnh, … Gỗ ghép song song gồm nhiều thanh gỗ cùng chiều dài, có thể khác chiều rộng, ghép song song với nhau. Gỗ ghép mặt gồm nhiều thanh gỗ ngắn, ở hai đầu được xẻ theo hình răng lược rồi ghép lại thành những thanh có chiều dài bằng nhau, rồi tiếp tục ghép song song các thanh, cho nên chỉ nhìn thấy vết ghép hình răng lược trên bề mặt ván, thị trường Nhật rất chuộng cách ghép này.
Phân loại ván ghép thanh

Ván ghép thanh được hình thành trên nguyên tắc sử dụng hợp lý gỗ nhỏ và khắc phục một số nhược điểm của gỗ cả về khuyết tật tự nhiên như mắt sống, mắt chết, gỗ nhỏ, gỗ xoắn…. Loại ván này có kết cấu tương đối đa dạng, song đặc điểm chung của kết cấu là ván được cấu tạo bởi hai phần chính: phần lõi và phần phủ mặt. Phần lõi có kết cấu đa dạng. Kết cấu của lõi có quyết định đối với từng loại ván. Phần phủ mặt là một hay nhiều lớp ván mỏng được dán phủ lên một hoặc hai bề mặt của ván lõi.

Lõi có thể là những thanh gỗ nhỏ ghép lại, đồng thời cũng có thể sử dụng các vật liệu khác như ván mỏng (ván bóc)…

Do sự đa dạng của kết cấu lõi nên có nhiều cách gọi khác nhau cho từng loại sản phẩm. Theo tiêu chuẩn BS 6100-1984, ván ghép thanh chia thành một số loại chủ yếu sau:

-         Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt.

-         Ván ghép thanh khung rỗng.

-         Ván ghép thanh lõi đặc có phủ mặt.

* Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt:

Sản phẩm thu được bằng cách ghép các thanh gỗ có kích thước nhỏ, ngắn lại với nhau nhờ chất kết dính. Loại sản phẩm này yêu cầu nguyên liệu có chất lượng tương đối cao, màu sắc đồng đều. Ở Việt Nam hiện nay thường sản xuất từ gỗ cao su, tràm bông vàng, thông….

Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất cần có một số yêu cầu bắt buộc sau:

-       Các thanh thành phần phải gia công đúng quy cách.

-       Phải đảm bảo độ khít kín khi xếp các thanh ghép.

-       Độ ẩm thanh ghép MC = 8 ± 2 %

-       Xếp các thanh kế tiếp nhau theo phương pháp đối xứng vòng năm.

-       Lượng keo tráng 150 – 200 g/m2.

-       Áp suất ép cạnh phụ thuộc vào chất lượng bề mặt thanh song song khoảng 8-10 kG/cm2.

* Ván ghép thanh lõi đặc có phủ mặt:

Sản phẩm thu được bằng cách dán ép các tấm ván mỏng (veneer) lên cả hai bề mặt của tấm gỗ ghép với sự tham gia của chất kết dính trong những điều kiện nhất định. Ván ghép thanh có phủ mặt chia làm hai loại: Blockboard và Laminboard. Hai sản phẩm này khác nhau chủ yếu về kích thước chiều rộng của các thanh thành phần để tạo nên ván lõi.

* Ván ghép thanh khung rỗng:

Sản phẩm thu được bằng cách dán ép các tấm ván mỏng (veneer) hoặc ván dán có chiều dày nhỏ lên các khung gỗ rỗng với sự tham gia của chất kết dính trong những điều kiện nhất định. Loại hình sản phẩm này chủ yếu dùng cho sản xuất đồ mộc, nên ở Việt Nam còn gọi là ván mộc.

Đặc điểm nổi bật của loại sản phẩm này là: chiều dày của sản phẩm lớn song khối lượng thể tích nhỏ, chính vì vậy rất thuận tiện cho quá trình gia công lắp ráp.

 Một số ưu điểm chủ yếu của các loại ván ghép thanh:

-           Nguyên liệu để sản xuất chủ yếu từ gỗ có kích thước nhỏ, độ bền cơ học thấp.

-           Sản phẩm đồng đều về độ ẩm, đa dạng và ổn định về kích thước.

-           Linh động khi liên kết và lắp ráp.

-           Giá thành thấp (tính theo m3 sản phẩm) và tiết kiệm gỗ.

5. Phân biệt một số loại ván gỗ tự nhiên và ván gỗ công nghiệp

 Ván Ghép Thanh (gỗ ghép) :

Gỗ ghép thanh (ván ghép) được sản xuất từ nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Những thanh gỗ nhỏ đã qua xử lý hấp sấy, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, gỗ được cưa, bào, phay, ghép, ép, chà và sơn phủ trang trí. Ván ghép thanh được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất đồ mộc, trang trí nội thất, sản xuất ván sàn và nhiều sản phẩm nội thất khác khác.

 Hiện nay, nội thất làm từ gỗ ghép thanh đã trở nên khá phổ biến ở hầu hết các đô thị lớn và các tỉnh công nghiệp phát triển. Gỗ ghép thanh có nhiều tính năng ưu việt mới như:Không bị mục mọt, không bị co ngót cong vênh, mẫu mã đa dạng phong phú, bề mặt được xử lý nên có độ bền màu tốt, có khả năng chịu va đập và chống xước cao. Tính ưu việt nổi trội hơn cả là ván ghép thanh được sản xuất chủ yếu từ khai thác gỗ rừng trồng, gỗ tận dụng nên đây thực sự là một loại vật liệu thay thế hoàn hảo trong lĩnh vực vật liệu nội thất trong khi nguồn gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm, đáp ứng được tính bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội.

Ván Dăm :

Okal hay còn gọi là Ván dăm (PB) là gỗ nhân tạo được sản xuất từ nguyên liệu gỗ rừng trồng (bạch đàn, keo, cao su...), có độ bền cơ lý cao, kích thước bề mặt rộng, phong phú về chủng loại. Mặt ván được dán phủ bằng những loại vật liệu trang trí khác nhau: melamine, veneer (gỗ lạng)...

 Ván dăm chủ yếu sử dụng để trang trí nội thất, sản xuất đồ mộc gia đình, công sở. Ván được sản xuất bằng quá trình ép dăm gỗ đã trộn keo, tương tự như MDF nhưng gỗ được xay thành dăm, nên chúng có chất lượng kém hơn so với MDF.



Công nghệ dán phủ mặt và cạnh ván thỏa mãn nhiều yêu cầu về hình dạng và kích thước, gồm hai loại sản phẩm ván dăm trơn và MFC. Ván dăm trơn là loại phổ biến trên thị trường, khi sử dụng thường được phủ veneer, sơn, hoặc phủ PU. Với sản phẩm MFC, hai mặt được phủ một lớp melamine nhằm tạo vẻ đẹp,chống ẩm và trầy xước.



Cốt Ván dăm được chủ yếu được phủ nhựa Melamine (MFC) tạo thành nguyên liệu phục vụ trong lĩnh vực nội thất văn phòng. Những nước sản xuất ván dăm nhiều trên thế giới là Malaysia, Việt Nam, New Zealand, Thái Lan, Australia.

Ván Dán :

Gỗ dán là gỗ được làm ra từ gỗ tự nhiên được lạng mỏng ra thành từng tấm có dỗ dày 1mm rồi mang các lớp gỗ đó đi ép chúng một cánh đan xen lại với nhau cùng với chất kết dính. Gỗ dán không bị nứt lẻ trong điều kiện thông thường không bị mối mọt co ngót.



Điều kỳ lạ là chúng chỉ có 3 lớp, 5 lớp,9 lớp, thậm chí là 11 lớp.Tại sao không có lớp gỗ chẵn ? Phải chăng người ta kiêng kị điều gì ???

Thì ra khi khô hanh gỗ thường co lại và nói chung phần co theo vân ngang lớn hơn phần co theo vân dọc. Ngày thường chúng ta trông thấy những tấm gỗ bị vênh, chẳng phải chúng đều vênh theo hướng ngang ư?Tấm gỗ càng mỏng, càng dễ bị vênh. Tấm gỗ dán chính là lợi dụng tính co lại không đều của các tấm mỏng, đem xếp dán các tấm mỏng co theo vân ngang với tấm mỏng co theo vân dọc để tránh nhược điểm trên.

 Sở dĩ tấm gỗ dán có số lớp lẻ là để làm cho các tấm gỗ dán có một lớp cốt lõi ở giữa, một mặt khiến các lớp mỏng ở hai phía bị lớp cốt lõi giữ chặt không thể tự do giãn nở, mặt khác cũng làm cho lớp cốt lõi bị các lớp phía ngoài hạn chế. Vì thế tấm gỗ dán bao giờ cũng được dán lớp vân ngang rồi đến lớp vân dọc khác để làm cho các lớp gỗ mỏng kiềm chế lẫn nhau không bị cong vênh hoặc nứt gãy.



Còn nếu dùng số lớp mỏng là chẵn thì tuy có một lớp ngang một lớp dọc, nhưng hướng vân của hai lớp mỏng ngoài cùng sẽ không giống nhau, một lớp co theo hướng dọc, một lớp co theo hướng ngang, kết quả là hai mặt ngoài của tấm gỗ dán sẽ lớn nhỏ không đều nhau, hơn nữa do hướng vân của hai lớp mỏng ngoài cùng không giống nhau, nên mất tác dụng kiềm chế lớp trung gian, vì vậy các tấm gỗ dán đều có số lớp gỗ mỏng là số lẻ.

Ván Sợi :

MDF (ván sợi) là loại ván sợi làm từ gỗ hay những nguyên liệu xơ gỗ xenlulô khác, tinh lọc thành sợi gỗ và tái tạo lại với keo được trộn vào trong nguyên liệu ở nhiệt độ cao. MDF có cấu trúc đồng nhất, bề mặt phẳng, trơn, chặt chẽ, không có vệt đen và vân gỗ.
 

Nhà cung cấp Ván ghép thanh, đồ gỗ nội thất, sàn gỗ tự nhiên chất lượng , cạnh tranh và đúng hạn ...

Được tạo bởi Blogger.
Seo-Web
vanmdfbinhduong.com
Chuyên trang mua bán cung cấp ván gỗ công nghiệp.